 |  | VIỆN GÚT | | | | 08 62968626 | | 08 62968627 | | Email :viengutvn@gmail.com |
|  |
 | Đang truy cập : | 8 |  | Tổng lượt truy cập : | 158821 | |
|
|
| Web Link |
|
|
 |
|
|
|
|
 | |  |
 |
NHỮNG ĐIỀU BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CẨN BIẾT
|
TS-BS. NGUYỄN THỊ BÍCH ĐÀO
Khoa Nội tiết - BV Chợ Rẫy
1. Làm sao phát hiện được bệnh đái tháo đường sớm?
Ở mọi lứa tuổi, khi thấy các triệu chứng bất thường như ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều và gây sụt cân thì nên nghĩ đến bệnh đái tháo đường. Người bệnh tuy uống nhiều nước, nhưng vẫn không giảm được cảm giác khát nước, mặc dù ăn nhiều nhưng vẫn sụt cân nhiều trong thời gian ngắn. Các dấu hiệu trên, có thể biểu hiện rõ cả bốn triệu chứng ở người bệnh này, nhưng chỉ biểu hiện một, hai triệu chứng ở người khác. Khi thấy có dấu hiệu bất thường như trên, bạn có thể đến BS chuyên khoa Nội tiết để được khám lâm sàng và làm các xét nghiệm cần thiết. Trường hợp thấy vết thương lâu lành, thấy có cảm giác dị cảm ở đầu chi như cảm giác kiến bò, kim châm... bạn nên đi khám ngay.
| Chi tiết
|
|
|
|  |
 |
Rối loạn lipit máu
|
Rối loạn lipit máu là gì, có nguy hiểm không,chế độ ăn kiêng như thế nào?
Những điều cần biết về rối loạn mỡ trong máu
Hiện nay, bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các nước công nghiệp phát triển và được dự báo là sẽ gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển, kể cả khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Nhiều yếu tố nguy cơ góp phần gây ra bệnh tim mạch đã được xác định như là tăng huyết áp (cao máu), hút thuốc lá, bệnh đái tháo đường (tiểu đường), béo phì, ít vận động, lớn tuổi, mãn kinh và đặc biệt là rối loạn mỡ trong máu, là tình trạng hiện còn ít được đề cập trong các chương trình truyền thông - giáo dục sức khỏe.
1. Rối loạn mỡ trong máu (RLMTM) là gì?
Rối loạn mỡ trong máu có khi được gọi là tăng mỡ trong máu hay dân gian hơn là cao mỡ trong máu, dư mỡ trong máu, hoặc mỡ lộn máu, máu lộn mỡ… Dùng chữ Rối loạn mỡ trong máu mà không dùng là tăng, cao hoặc dư là vì thực sự có nhiều loại mỡ trong máu mà một số loại khi tăng là XẤU đối với cơ thể; nhưng có loại mỡ (như HDL - Cholesterol) có vai trò bảo vệ, chống bệnh tật nên càng cao lại càng TỐT. Do đó chữ RỐI LOẠN MỠ TRONG MÁU có nghĩa chính xác hơn.
Chúng ta đều biết để đảm bảo cung cấp năng lượng cho các hoạt động bình thường và cung cấp các vật liệu cần thiết duy trì cấu trúc các cơ quan bộ phận trong cơ thể người, chúng ta cần 3 hệ thống chuyển hóa: hệ thống chuyển hóa Protein còn gọi là đạm, chuyển hóa Gluxit còn gọi là đường và chuyển hóa Lipid còn gọi là mỡ. Ba hệ thống chuyển hóa này giúp cơ thể tiêu hóa, hấp thu các chất từ thức ăn hàng ngày sau đó phân phối, dự trữ và sử dụng các chất theo đúng nhu cầu của cơ thể. Như vậy cũng như chất đạm, đường, chất mỡ được hấp thu từ thức ăn, qua ruột vào máu rồi theo đường máu tới cơ để giúp tạo năng lượng cho cơ bắp hoạt động, tới gan để biến đổi thành các vật liệu cần thiết cho cơ thể như mật, các chất tham gia cấu tạo nên các mô tế bào và nếu dư thừa sẽ tích lũy tại mô mỡ với chức năng DỰ TRỮ.
Như vậy việc ăn uống thức ăn có một lượng mỡ nhất định hàng ngày là chuyện bình thường, cũng như chất đạm có trong thịt, cá, tàu hũ và đường trong cơm, bánh mì, hủ tíu, trái cây. Một khẩu phần có tỷ lệ cân đối giữa đạm - đường - mỡ là rất cần thiết cho việc đảm bảo chế độ dinh dượng mạnh khoẻ. Tỷ lệ này dĩ nhiên có sự khác biệt tùy theo đặc điểm địa lý, khí hậu, dân tộc và thói quen. Ví dụ như người xứ lạnh cần khẩu phần mỡ khá cao để giúp việc tạo đủ năng lượng chống với giá lạnh, dĩ nhiên họ dùng loại mỡ cá là mỡ ít gây bệnh và thực tế tỷ lệ mắc bệnh tim mạch của họ không cao.
Mỡ hấp thu từ thức ăn qua ruột, hoặc được tạo ra từ gan, cũng phải được lưu thông trong máu tới các nơi sử dụng hoặc dự trữ, do đó việc xét nghiệm máu thấy có mỡ loại này loại kia cũng là chuyện BÌNH THƯỜNG hay nói một cách khác CÓ MỠ TRONG MÁU là điều bình thường, không nên quá hoảng hốt như một số bệnh nhân. Tuy nhiên lượng MỠ TRONG MÁU NÀY phải nằm trong MỨC BÌNH THƯỜNG hay còn gọi là mức MONG MUỐN. Khi các xét nghiệm thấy các thành phần mỡ trong máu tăng (hoặc giảm) qua mức GIỚI HẠN thì cần cẩn thận bắt đầu điều chỉnh chế độ độ ăn uống và nếu đạt tới mức BÁO ĐỘNG thì cần có các biện pháp điều trị tích cực hơn như điều chỉnh chế độ ăn uống sinh hoạt phối hợp với việc dùng thuốc hạ mỡ trong máu.
Tóm lại là khi các thành phần mỡ vốn có trong máu thay đổi và vượt qua giới hạn BÌNH THƯỜNG hay MONG MUỐN, thì người ta nói là có RỐI LOẠN MỠ TRONG MÁU. Đương nhiên có rối loạn nhẹ, có những trường hợp rối loạn nhiều, nặng hay cần báo động để can thiệp điều trị.
Tại sao RỐI LOẠN MỠ TRONG MÁU LẠI CẦN QUAN TÂM VÀ NÓ GÂY NGUY HIỂM GÌ ? Khi có sự rối loạn mỡ trong máu, thường có sự gia tăng quá nhiều chất béo gây bệnh, cụ thể là những chất béo gây ra xơ vữa động mạch. Các chất béo này, đặc biệt là LDL - Cholesterol sẽ đọng lại, gắn vào thành mạch máu và kéo theo là một chuỗi quá trình tiếp theo để tạo thành những vệt mỡ, những mảng vữa xơ mà hậu quả của nó là làm hẹp lòng mạch máu lại. Lòng các mạch máu hẹp lại sẽ làm giảm việc cung cấp máu cho các cơ quan quan trọng.. Nếu là tim ta có bệnh thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim; Nếu là não ta có bệnh tai biến mạch máu não như đột quỵ (mà dân gian hay gọi là đứt gân máu); nếu là ở mạch máu tay chân ta có bệnh tê lạnh đầu ngón chân tay, đau buốt khi đi lại…
Những biến chứng mạch máu này đều rất nguy hiểm vì có thể gây chết người hoặc tàn tật.
Điều quan trọng phải nói là rối loạn mỡ trong máu không phải là nguyên nhân duy nhất hoặc trực tiếp gây ra các bệnh tim mạch nói trên mà nó là một trong những yếu tố góp phần gây bệnh, danh từ y khoa gọi là yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch. Nghĩa là việc điều trị và phòng ngừa bệnh tim mạch bao gồm việc phát hiện và điều chỉnh các yếu tố nguy cơ có trên một bệnh nhân. Ngoài việc điều trị rối loạn Lipid máu, cần bỏ thuốc lá, điều trị tăng huyết áp, điều trị đái tháo đường, giảm cân và tăng cường luyện tập thể dục, vận động, dưỡng sinh.
VẬY LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC CÓ RỐI LOẠN MỠ TRONG MÁU ? Việc khám sức khoẻ hoặc khám bệnh định kỳ là rất cần thiết, đặc biệt khi bắt đầu có tuổi (trên 40 tuổi). Khám bệnh kỹ lưỡng có thể phát hiện được nhiều triệu chứng quan trọng, biết được huyết áp, nhịp tim, dấu hiệu phù chân, gan lớn, báng bụng… Nhưng riêng đối với rối loạn mỡ trong máu thì việc khám bệnh rất hạn chế. Phương pháp chẩn đoán sớm nhất và chính xác nhât là xét nghiệm máu, các Bác sĩ sẽ hướng dẫn kỹ bệnh nhân để việc lấy máu thử được chính xác.
Các chỉ số mỡ trong máu được các phòng xét nghiệm ghi rõ mức bình thường và kết quả của bệnh nhân. Việc phân tích, nhận định các kết quả này cũng như mức độ cần can thiệp, những lời khuyên về chế độ ăn uống, thay đổi thói quen, lối sống và quyết định chọn lựa loại thuốc nào tốt nhất phải do Bác sĩ phụ trách việc khám bệnh cho bệnh nhân quyết định.
Một điều cần nhắc là rối loạn mỡ trong máu không thay đổi nhanh chóng trong vài giờ hoặc vài ngày, ngay cả khi bắt đầu áp dụng chế độ kiêng khem hoặc dùng thuốc, vì vậy không nên nôn nóng đi thử máu nhiều lần liên tiếp chỉ cách nhau vài ngày. Thời gian kiểm tra lại xét nghiệm tốt nhất cũng tùy theo sự chỉ định của thầy thuốc khám bệnh.
ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN MỠ TRONG MÁU NHƯ THẾ NÀO ? Như đã cắt nghĩa ở phần trên, rối loạn mỡ trong máu chỉ là một trong các yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch trên một bệnh nhân, hơn nữa bản thân sự rối loạn mỡ trong máu lại có những loại khác nhau và mức độ nặng nhẹ khác nhau, do đó việc quyết định điều trị cần phải được Bác sĩ cân nhắc hết sức kỹ càng trong việc đánh giá toàn diện người bệnh, kể cả yếu tố bệnh tật, nghề nghiệp, xã hội, và khả năng tài chánh.
Có rất nhiều thuốc điều trị hạ mỡ trong máu, chúng có cơ chế tác dụng, hiệu quả, cũng như tác dụng phụ khác nhau, do đó việc lựa chọn chính xác và phù hợp cần ý kiến của Bác sĩ, người nào nắm rõ bệnh nhân, đầy đủ, toàn diện và đã có kinh nghiệm thức tế vững vàng.
Mong rằng mọi người tiếp tục hoặc ngay từ bây giờ, có những hành động cần thiết giúp cho việc phát hiện sớm, chẩn đoán đúng, điều trị hữu hiệu và một kế hoạch phòng ngừa bệnh thật sớm, thật hiệu quả cho chính mình và những người thân của mình.
Điều trị và phòng ngừa
Những người bị bệnh RLMM không nên quá lo lắng sợ hãi, hãy bình tĩnh áp dụng ngay việc điều trị không dùng thuốc, bao gồm hai điều cơ bản:
Kiêng cữ trong ăn uống: Giảm ăn mỡ bão hòa (mỡ động vật, bơ, dầu dừa…), nếu không kiêng được tuyệt đối thì tránh ăn quá 1/3 mỡ bão hòa trong nhu cầu chất béo hàng ngày. Giảm ăn các chất có chứa nhiều cholesterol như phủ tạng động vật (não, bầu dục, tim, gan…). Riêng với lòng đỏ trứng gà tuy cũng nhiều cholesterol nhưng đồng thời có nhiều lecithin là một chất điều hòa chuyển hóa cholesterol trong cơ thể, do đó không nhất thiết kiêng hẳn, mà có thể ăn 2-3 quả trứng một tuần. Với người thừa cân thì cần thiết phải giảm cân nặng. Nên ăn nhiều rau quả tươi, uống nước chè xanh. Không uống nhiều rượu bia, không hút thuốc lá vì nó thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch và làm tăng cholesterol xấu.
Tập thể dục thể thao: Cần tập phù hợp với sức khỏe từng người, mỗi lần tập cố gắng đủ 30-45 phút ở mức độ không gắng sức, tập thường xuyên ít nhất 3 lần trong tuần. Tập thể dục thể thao sẽ góp phần tăng tác dụng của việc ăn kiêng.
Sau khi áp dụng các biện pháp điều trị không dùng thuốc nói trên 4-6 tháng mà vẫn không cải thiện được tình trạng RLMM, đặc biệt là cholesterol xấu (LDL-c) còn cao thì cần dùng thêm thuốc hạ mỡ trong máu. Về thuốc có thể dùng một trong 4 nhóm thuốc là: Statin, fibrate, niacin, hoặc resin. Khi dùng thuốc phải có sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ, vì ngoài tác dụng hạ mỡ trong máu, thuốc còn có thể gây nhiều tác dụng phụ.
| Chi tiết
|
|
|
|  |
 |
Huyết Áp Cao
|
 |
|
Đo bằng huyết áp kế
|
Huyết áp cao là danh từ để chỉ trạng thái tăng áp lực của máu trong động mạch. Danh từ này do Y Học Hiện Đại đặt ra căn cứ trên phát hiện của áp huyết kế.
Y Học Cổ Truyền trước đây không có danh từ huyết áp cao nhưng có những tên gọi như Huyễn Vựng (Vận), Can Dương Vượng ... mà nội dung rất gần với các chứng trạng của bệnh Huyết áp cao.
Huyết áp cao là bệnh có tỉ lệ mắc bệnh cao:
Châu Âu và Bắc Mỹ : 15 – 20 %.
Việt Nam : 6 – 12 %
(Theo thống kê của sách Bách Khoa Thư Bệnh Học 1990).
Bệnh biến đổi thường xuyên:
Thay đổi trong ngày: (ban đêm ít (thấp) hơn ban ngày).
Theo tuổi: Lớn tuổi bị nhiều hơn trẻ tuổi.
Theo giới: Nam bị nhiều hơn nữ.
Muốn biết rõ chính xác huyết áp cao cần phải dùng máy đo huyết áp (huyết áp kế). Khi đo huyết áp ta sẽ ghi nhận được 2 trị số:
-
Trị số HA tối đa (còn gọi là HA Tâm Thu): Tượng trưng cho áp lực máu trong động mạch lúc tim co bóp.
-
Trị số HA tối thiểu (còn gọi là HA Tâm Trương): Tượng trưng cho áp lực máu trong động mạch lúc tim giãn ra. Số tối thiểu này còn cho ta biết rõ về sức kháng của các động mạch nhỏ trong cơ thể.
Theo tổ chức Y Tế thế giới (OMS — WHO), một người được coi là huyết áp cao khi HA tối đa lớn hơn 140mmHg và HA tối thiểu lớn hơn 90mmHg. HA trung bình là 120/80 mmHg (theo OMS) và 110/70 (theo Viện Thống Kê Sinh Học Việt Nam).
Tuy nhiên cũng cần lưu ý là đối với người lớn tuổi HA bình thường hơi tăng một ít do sức đàn hồi của mạch máu bị giảm. Một người bình thường trên 50 tuổi HA 160/90mmHg được coi là bình thường. Ngoài ra, còn có loại HA cao sinh lý:
-
Buổi sáng HA hơi hạ, khi ăn no, có xúc cảm, sau buổi lao động, sau khi suy nghĩ căng thẳng...HA có hơi tăng một ít.
-
Phụ nữ có thai hoặc đang có kinh nguyệt, HA cũng hơi tăng.
BỆNH DANH
Y Học Hiện Đại trước đây gọi chung là HA cao, gần đây, dựa trên sinh lý học, các nhà nghiên cứu đè xuất nên gọi là HA tăng hoặc tăng HA.
Y Học Cổ Truyền trước đây không có tên gọi là HA cao nhưng hiện nay giới YHCT cũng đã quen dần với tên gọi: HA cao, HA tăng.
PHÂN LOẠI
Theo Y Học Hiện Đại
Có nhiều cách phân loại khác nhau:
Dựa vào 2 trị số Tối Thiểu và Tối Đa, người ta chia ra làm 2 loại sau:
-
HA Cao Thể Tâm Thu: Khi chỉ có HA tối đa tăng cao, HA tối thiểu vẫn ở trong giới hạn bình thường. Thí dụ: 170/80mmHg, 195/80mmHg...
-
HA Cao Thể Tâm Trương: Khi cả 2 trị số HA tối đa và tối thiểu tăng cao hơn bình thường. Thí dụ: 180/95mmHg, 195/100mmHg...
Dựa vào sự tăng của HA tối thiểu, các nhà nghiên cứu có thể xếp loại mức độ nặng nhẹ trong bệnh HA tăng như sau:
-
HA cao nhẹ (giai đoạn 1): HA tối thiểu 90 - 104mmHg
-
HA cao trung bình (giai đoạn 2): HA tối thiểu 105 - 114mmHg
-
HA cao nặng, trầm trọng (giai đoạn 3): HA tối thiểu 115mmHg.
Một số tác giả dựa vào tính chất nặng nhẹ, lành tính, ác tính mà chia ra như sau:
-
HA cao thường xuyên: Có thể là lành tính và ác tính.
-
HA cao theo cơn: Dựa trên cơ sở bình thường hoặc gần bình thường, có những cơn cao vọt.
-
HA dao động: Trị số HA có lúc tăng lúc không.
Dựa vào nguyên nhân gây bệnh 1 số tác giả lại chia ra:
Theo Y Học Cổ Truyền
Y Học Cổ Truyền chưa thống nhất về cách phân loại bệnh HA cao.
-
Nguyễn Như Lệ (VNam) trong Tạp Chí Đông Y’ số 11967 phân loại HA cao theo Tạng: HA cao thể Can, Tâm, Thận, Tỳ...
-
Thịnh Quốc Vinh (T.Quốc) phân loại theo Âm Dương và Tạng.
-
Vương Kiến Dân (T.Quốc) phân loại theo Hàn – Nhiệt, Hư – Thực và Khí – Huyết.
-
Sở Nghiên Cứu Nội Khoa Viện Nghiên Cứu Trung Y (T.Quốc) phân loại theo Âm Dương, Tạng, Hàn Nhiệt và tên bệnh.
-
Sở Nghiên Cứu HA Cao của Trung Y Học Viện Thượng Hải phân loại theo Âm Dương.
Trong các cách phân loại trên mỗi cách đều có ưu khuyết điểm riêng, tuy nhiên để cho phù hợp với quan điểm của Y Học Cổ Truyền, các nhà nghiên cứu đề nghị dùng cách phân loại theo Âm Dương của Viện Trung Y Thượng Hải.
Theo cách phân loại này, ta có 5 loại sau:
-
Dương Thịnh: Can dương thượng cang, Can nhiệt thượng xung.
-
Dương Hư: Thận dương hư, Dương khí trong ngực hư.
-
Âm Hư Dương Thịnh: Âm hư Can vượng, Thận suy Can vượng.
-
Âm Hư: Can Thận lưỡng hư, Tâm huyết hư.
-
Âm Dương đều hư.
So sánh với Y Học Hiện Đại, Sở Nghiên Cứu Nội Khoa của Viện Nghiên Cứu Trung Y nhận xét như sau:
-
Thể Dương Thịnh: Tương đương thời kỳ 1 giai đoạn 1 và thời kỳ 2 (giai đoạn HA cao chưa có xơ cứng động mạch).
-
Thể Âm Hư Dương Hư: Tương đương với thời kỳ I (giai đoạn có xơ cứng động mạch và triệu chứng về tim, thận, não...)
-
Thể Âm Dương Đều Hư: tương đương với giai đoạn II thời kỳ III là lúc đã mất sức lao động.
-
Thể Âm Hư Dương Thịnh: Là thời kỳ chuyển tiếp giữa giai đoạn II và III.
NGUYÊN NHÂN
THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Theo Tổ Chức Y Tế thế giới thì 1 số ít trường hợp HA cao đã có nguyên nhân được biết rõ nhưng phần lớn (trên 90% số trường hợp) cho đến nay người ta vẫn chưa xác định rõ được nguyên nhân. Đối với những trường hợp này y học gọi là HA vô căn (HA không rõ nguyên nhân).
Theo Tổ Chức Y Tế thế giới, một số nguyên nhân gây ra HA cao là:
Trong thời kỳ chiến tranh, HA cao nhiều hơn. Trạng thái căng thẳng thần kinh, không thoải mái, môi trường xã hội không thuận lợi: Ở thành phố ồn ào, nhiều kích động hơn nông thôn...HA cũng cao hơn.
Khi bị sợ hãi nhiều, cơ thể tiết ra chất Adrenalin và Noradrenalin làm mạch máu co lại gây ra HA cao.
Chế độ ăn uống hàng ngày có thể ảnh hưởng đến HA: Ăn thừa năng lượng (calori) dẫn đến thừa cân nặng ở cơ thể, thừa mỡ cũng gây nên bệnh HA cao và bệnh nhiễm mỡ xơ mạch. Giữa 2 bệnh này có sự thúc đẩy qua lại: Sự phát triển của bệnh này làm bệnh kia tiến triển hơn.
Ăn thừa muối (NaCl) có ảnh hưởng đến việc tăng HA.
Có gia đình cả nhà hoặc cả họ đều bị HA cao.
Ngoài ra, tổ chức y tế thế giới cũng lưu ý đến 3 nhóm nguyên nhân chính thường gặp:
Thuốc ngừa thai loại hormon tổng hợp.
Cam thảo và Carbenoxolone.
ACTH và Corticoide.
Với 3 dấu hiệu kinh điển: HA cao + protein niệu + phù.
Hẹp động mạch chủ (tật bẩm sinh).
Các bệnh của Thận (Cầu thận, Bể thận viêm...)
Các bệnh của vỏ thượng thận: Hội chứng Cushing, U thượng thận gây ra tăng aldosteron...
Các bệnh của thượng thận: U pheochromocytome...
Một số tác giả hiện nay phân loại nguyên nhân gây HA cao thành 2 nhóm chính, dựa theo trị số của HA tâm thu và HA tâm trương.
HA CAO TÂM THU
Tăng năng tuyến giáp
Động mạch chủ xơ cứng
Thông rò tĩnh mạch
Sốt
HA CAO TÂM TRƯƠNG
Tăng áp lực nội sọ và 1 số bệnh của hệ
Thần Kinh trung ương
Hẹp động mạch chủ
Bệnh tăng hoạt động của thượng thận
Bệnh của thận và động mạch thận
HA cao không rõ nguyên nhân.
THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Theo Sở Nghiên Cứu Nội Khoa Viện Nghiên Cứu Trung Y Thượng Hải:
Nguyên nhân chủ yếu của HA cao là Thất Tình (7 loại tình chí của Y Học Cổ Truyền: Vui, buồn, giận...).
Từ nguyên nhân thất tình dẫn đến 1 số yếu tố gây bệnh khác mà Y Học Cổ Truyền thường hay đề cập đến là Phong, Hỏa, Đờm, Hư.
Cụ thể là:
-
Lo buồn suy nghĩ, tinh thần căng thẳng đều có thể làm cho khí bị mất. Khí mất lâu sẽ hóa hỏa. Giận dữ (nộ) làm hại Can (Nội Kinh: “ Nộ thương Can ” ), Can hỏa vượng lên gây ra nội phong.
-
Lo buồn, suy nghĩ làm hại Tỳ (Nội Kinh: “ Tư thương Tỳ ” ), Tỳ hư khí suy không chế ngự được Thận sẽ sinh ra đờm thấp. Đờm thấp có thể sinh ra nhiệt và nhiệt có thể sinh ra nội phong.
-
Tỳ hư ảnh hưởng đến việc dinh dưỡng kém sút, làm cho tinh hậu thiên của các tạng suy kém gây ra Hư, nhất là đối với Thận âm.
-
Thận âm hư làm cho Can huyết hư không nuôi dưỡng được Can, nhẹ thì gây ra chứng Âm hư Can vượng, nặng thì sinh ra Can mộc nội phong.
Các yếu tố này tuy bao gồm Phong, Hỏa, Đờm, Hư nhưng chủ yếu là do Nội Phong và Hỏa vượng.
So sánh với các yếu tố gây bệnh của Y Học Hiện Đại và Y Học Cổ Truyền có thể nhận thấy:
Về nhận thức: Y Học Hiện Đại và Y Học Cổ Truyền đều cho rằng hoạt động tinh thần là nguyên nhân gây bệnh.
Về các yếu tố gây bệnh:
-
Phong Hỏa, cụ thể là Can Hỏa, Can phong rất gần với hội chứng stress, tinh thần căng thẳng...
-
Đờm tương ứng với chứng cholesterol máu cao.
Hư ở đây có thể hiểu là hiện tượng thoái hóa của cơ thể, động mạch xơ cứng...
Theo duocthaotrexanh | Chi tiết
|
|
|
|  |
 |
Bệnh mạch vành
|
Bệnh mạch vành hay bệnh tim thiếu máu cục bộ là gì ?
Bệnh mạch vành, bệnh tim do mạch vành, bệnh tim thiếu máu cục bộ (và cả những cụm từ như suy vành, thiểu năng vành) là những cụm từ khác nhau để chỉ tình trạng động mạch vành - động mạch cấp máu nuôi dưỡng tim – bị hẹp. Hậu quả là lượng máu cung cấp cho cơ tim bị giảm sút. Nguyên nhân chủ yếu của hẹp động mạch vành là do xơ vữa động mạch.
Đối tượng mắc bệnh là ai ?
Bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đã phát triển. Bệnh thường gặp ở người có tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm (trước 55 tuổi), người hút thuốc lá, người mắc bệnh tăng huyết áp, tăng mỡ (cholesterol) máu, đái tháo đường (các yếu tố này cũng có tính gia đình). Béo phì, ít hoạt động thể lực và stress cũng đóng vai trò quan trọng trong sự tiến triển của xơ vữa động mạch. Nguy cơ mắc bệnh mạch vành tăng theo tuổi và cao hơn ở nam giới, cho dù nguy cơ ở nữ gia tăng đáng kể ở độ tuổi 5 đến 10 năm sau mãn kinh. Thay đổi lối sống, điều trị thuốc hoặc kết hợp cả hai biện pháp có thể giúp điều chỉnh được các yếu tố nguy cơ ngoại trừ yếu tố di truyền, tuổi và giới.
Triệu chứng như thế nào ?
Bệnh mạch vành có thể diễn biến tiềm tàng trong nhiều năm. Triệu chứng thường gặp nhất là đau thắt ngực. Trong đa số trường hợp, các triệu chứng không được để ý cho đến khi động mạch vành bị hẹp nhiều, đến một mức độ đáng kể. Nhiều khi bệnh mạch vành chỉ được biết đến khi đã xuât hiện biến chứng, nhồi máu cơ tim. 
Chẩn đoán như thế nào ?
Bệnh mạch vành không triệu chứng có thể được chẩn đoán bằng đáp ứng dương tính với nghiệm pháp gắng sức (bằng gắng sức thể lực khi chạy trên thảm chạy, đạp xe đạp có lực kế hay dùng thuốc, qua theo dõi các biến đổi trên điện tâm đồ, siêu âm tim hoặc kết hợp với xạ hình tưới máu cơ tim) hoặc chụp động mạch vành thấy hẹp. Một khi đã có biểu hiện đau thắt ngực khi gắng sức, bệnh mạch vành cần được theo dõi và điều trị hết sức chặt chẽ. Cần làm các xét nghiệm để xác định chẩn đoán và đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh cũng như của các yếu tố ngu cơ và các yếu tố làm nặng bệnh. trở về đầu trang
Điều trị như thế nào ?
Điều trị bệnh mạch vành phức tạp và tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, song nhất thiết phải được các bác sỹ theo dõi thường xuyên và điều chỉnh kịp thời. Bao gồm những phương pháp từ đơn giản đến phức tạp như: điều chỉnh lối sống; dùng thuốc: aspirin, thuốc hạ huyết áp, thuốc hạ cholesterol máu, thuốc chẹn thụ thể bêta giao cảm, các dẫn xuất nitroglycerin, thuốc chẹn kênh calci; can thiệp động mạch vành qua da (nong bằng bóng và đặt giá đỡ) và/hoặc mổ bắc cầu nối động mạch vành. trở về đầu trang
Biến chứng nguy hiểm là gì ?
Biến chứng thường gặp và nguy hiểm nhất của bệnh mạch vành là nhồi máu cơ tim và đột tử. Các biến cố này thường do sự hình thành cục máu đông làm lấp tắc động mạch vành đã bị hẹp từ trước do mảng xơ vữa ở thành của động mạch vành. Các biến chứng khác bao gồm rối loạn nhịp tim và suy tim. trở về đầu trang
Dự phòng như thế nào ?
Những biện pháp điều chỉnh lối sống áp dụng trong điều trị cũng có ý nghĩa then chốt trong dự phòng hoặc giảm thiểu các tác hại của bệnh mạch vành. Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức hợp lý, tập luyện thể lực thường xuyên, kiểm soát huyết áp trong giới hạn bình thường, ăn ít chất béo và cholesterol, bỏ hoàn toàn hút thuốc lá là những biện pháp cơ bản trong phòng ngừa bệnh mạch vành. trở về đầu trang | Chi tiết
|
|
|
|  |
|
|
|
|
| THÔNG BÁO | |
|
|
|
|